Lịch công tác
Danh bạ nội bộ
Liên kết website
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Bài phát biểu của đồng chí Đinh Vĩnh Thụy, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhân dịp 75 năm ngày thành lập ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Kính thưa đồng chí Bùi Sỹ Tiếu, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh Thái Bình!

Kính thưa đồng chí Nguyễn Quang Hưng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh!

ính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn qua các thời kỳ!

Kính thưa các vị đại biểu khách quý, thưa các đồng chí!

Hôm nay, trong không khí phấn khởi của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thi đua lao động sản xuất, lập thành tích chào mừng thành công Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XX, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; được sự đồng ý của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị gặp mặt cán bộ công chức, viên chức nhân dịp 75 năm ngày thành lập ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Sở xin trân trọng gửi đến các đ/c Lãnh đạo tỉnh, các đ/c nguyên lãnh đạo ngành qua các thời kỳ, các vị đại biểu khách quý, cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên, người lao động Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lời kính chúc sức khỏe và lời chào mừng nồng nhiệt nhất!

Kính thưa các vị đại biểu khách quý, thưa các đồng chí!

Bộ Canh nông, tiền thân của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày nay được thành lập vào ngày 14/11/1945, theo đó, Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình được thành lập với tên gọi ban đầu là Ty Nông Lâm Thái Bình. Do chia tách, sáp nhập nhiều lần, nên mặc dù được thành lập khá sớm nhưng gần đây Chính phủ mới có quyết định chính thức công nhận ngày 14/11/1945 là ngày thành lập ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đây là phần thưởng cao quý nhất của Đảng, Nhà nước ghi nhận công lao đóng góp và hy sinh to lớn của nhiều thế hệ cán bộ công chức, viên chức và bà con nông ngư dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Trải qua 75 năm xây dựng và trưởng thành, các thế hệ cán bộ công chức, viên chức của ngành qua các thời kỳ luôn đồng cam cộng khổ với bà con nông ngư dân, bám sát đồng ruộng, khai hoang lập đất, quai đê lấn biển, đào sông, xây cống, dẫn thủy nhập điền, khoanh vùng tiêu úng, biến đồng đất từ cảnh chiêm khê, mùa thối thành cánh đồng màu mỡ, sản xuất được 2-3 vụ/năm, viết lên những trang sử hào hùng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Thái Bình qua các thời kỳ như sau:  

 (1) Giai đoạn 1945-1954: là giai đoạn vừa kháng chiến cứu quốc, vừa xây dựng chính quyền non trẻ; bên cạnh những khó khăn chung của cả nước, Thái Bình cũng đứng trước muôn vàn thử thách: 28 vạn người chết đói; 500 quân Tưởng kéo vào quấy phá; đê Đìa (Hưng Nhân) và đê Mỹ Lộc (Thư Trì) bị vỡ, hầu hết các phủ huyện trong tỉnh bị lụt, lúa và hoa màu bị mất trắng, tài sản và tính mạng của nhân dân vùng đầu nguồn nước bị tổn thất nặng nề.

Ngày 10-01-1946, và ngày 28-4-1946, Bác Hồ về thăm Thái Bình, người nhấn mạnh nhiệm vụ: Trước mắt phải làm tốt 3 việc lớn, chống giặc đói, giặc dốt, và giặc ngoại xâm. Lời dậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cổ vũ và động viên to lớn đối với nhân dân Thái Bình trong những ngày đầy khó khăn gian khổ đó. Bên cạnh việc sửa chữa công trình đê điều, thủy lợi, các cấp uỷ Đảng và chính quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân nhanh chóng cấy lại diện tích lúa bị chết, bước đầu chia lại ruộng công điền và tạm giao ruộng đất, đồn điền, ấp trại vắng chủ cho các gia đình nghèo đói cày cấy. Với khẩu hiệu phổ biến thời đó là "Không để một tấc đất bỏ hoang", "Tấc đất, tấc vàng"; Phong trào sản xuất phát triển mạnh mẽ, không chỉ đối với nông dân, mà cả đối với cán bộ, công nhân viên và học sinh; cùng với chính sách khuyến nông của Chính phủ, tập trung cải thiện hệ thống thủy lợi, tạo điều kiện cho việc khai hoang đạt kết quả;  Năm 1946-1949 Thái Bình không những tự túc được lương ăn, vải mặc mà còn cung cấp lương thực, bông vải cho tiền tuyến.

 (2) Giai đoạn 1954-1975: Là giai đoạn vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, bảo vệ thành quả cách mạng vừa phải chi viện sức người, sức của cho cuộc đấu tranh kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt ở Miền Nam.

Trong giai đoạn này, nông nghiệp Thái Bình gặp rất nhiều khó khăn, do những hậu quả nặng nề của chiến tranh và thiên tai để lại nhưng với tinh thần tất cả vì Miền Nam ruột thịt và hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người. Tất cả cho tiền tuyến lớn Miền Nam, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” cán bộ công chức, viên chức đã cùng bà con nông ngư dân, chắc tay súng, vững tay cày, làm nên quê hương 5 tấn đầu tiên của cả nước (năm 1966), ghi mốc son chói lọi trong trang sử vàng của ngành nông nghiệp Thái Bình.

Nhằm phấn đấu đưa Thái Bình trở thành một tỉnh gương mẫu về mọi mặt,  Ðảng bộ và nhân dân Thái Bình, luôn coi sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, phát động cao trào thi đua lao động sản xuất giỏi, trên những cánh đồng đều dựng lên khẩu hiệu “Cánh đồng 5 tấn chống Mỹ”, “Dũng sĩ 5 tấn”. Do vậy, năng suất lúa không dừng lại ở 5 tấn/ha, mà tiếp tục tăng lên, năm 1967 đạt 5,7 tấn/ha, năm 1972 giữa lúc chiến tranh ác liệt vẫn đạt 6,155 tấn/ha, năm 1974 đạt 7,090 tấn/ha. Chăn nuôi lợn thịt năm 1965 đạt 334 nghìn con, năm 1971 lên 437 nghìn con, năm 1975 lên 502 nghìn con. Trong 10 năm (1965-1974), Thái Bình đã đóng góp cho Trung ương 464.663 tấn lương thực, vượt mức kế hoạch được giao. Năm 1972, xí nghiệp đóng tàu Thái Bình đã đóng thành công con tàu công suất máy 90 CV đầu tiên và đưa vào hoạt động, từ đó nghề khai thác cá được vươn ra xa hơn, cùng với phong trào thi đua “Tay lưới, tay súng” mà khai thác thủy sản có bước phát triển vượt bậc, đóng góp hiệu quả cho tiền tuyến lớn. 

Bên cạnh việc tăng gia sản xuất, Thái Bình cũng tập trung nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn tạo tiền đề cơ sở vật chất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc. Một loạt công trình thủy lợi lớn nhỏ được ra đời trong thời kỳ hoàn chỉnh thủy nông, cùng với phong trào “điện, đường, trường, trạm” đã đem lại diện mạo mới cho nông thôn lúc bấy giờ. Ðã xây dựng nhiều cống, đập, trạm bơm tưới tiêu lớn, củng cố tốt các tuyến đê xung yếu, kể cả đê sông và đê biển; giải quyết căn bản bờ vùng, bờ thửa kết hợp với vệ sinh đồng ruộng; tăng cường trang bị công cụ cải tiến để tăng năng suất lao động; giải quyết tốt vấn đề úng, hạn, mở rộng diện tích tưới, tiêu hợp lý, do đó đã biến ruộng 1 vụ thành ruộng 2 vụ, khắc phục tình trạng chiêm khê, mùa thối.

(3) Giai đoạn 1975-1986: Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, nền nông nghiệp Thái Bình bước vào thời kỳ đẩy mạnh sản xuất để tạo tiền đề vật chất xây dụng chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn này điện khí hóa thủy nông phát triển khá mạnh, các trạm bơm điện công suất lớn đã được xây dựng, nhiều HTX xây dựng hệ thống máng nổi, xây dựng trạm bơm điện công xuất nhỏ trên địa bàn xã để tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Năm 1988 toàn tỉnh có 544 trạm bơm điện tăng 218 trạm so với năm 1975. Năm 1954 toàn tỉnh có trên 300 km đê thấp, nhỏ đến năm 1988 chiều dài đê tăng 1,9 lần (584 km đê các loại). Thủy lợi hóa đã cung cấp đủ nước cho diện tích đất canh tác, đồng thời góp phần cải tạo đất xấu, tăng năng suất cây trồng. Cơ giới hóa sản xuất cũng bắt đầu phát triển, trên đồng ruộng xuất hiện máy cày, máy kéo thay cho sức trâu, bò; Diện tích đất lúa năm 1986 đạt: 156.596 ha tăng 7.854 ha so với năm 1975; năng suất lúa từ sau năm 1975 liên tục đạt 7-8 tấn/ha. Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi lợn vẫn là ngành quan trọng trong phát triển nông nghiệp, hầu hết các HTX mở rộng trại chăn nuôi tập thể, quy mô đàn lợn tăng khá nhanh, làm cho ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp.

Về thủy sản, sau năm 1975, toàn tỉnh có 14 Hợp tác xã đánh cá được thành lập, trong đó có 05 Hợp tác xã nông nghiệp chuyển sang chuyên làm thuỷ sản, đông đảo ngư dân trong tỉnh đã gia nhập và hoạt động có hiệu quả; toàn tỉnh có 30 tàu đánh cá có công suất máy 135 – 140 CV và gần 200 tàu có công suất máy 22 – 23 CV; cùng với việc đẩy mạnh phong trào “Ao cá Bác Hồ”, mà nghề nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh cho đến ngày nay.

(4) Giai đoạn 1986 - 2020: Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đảng; đã huy động và giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nhân dân, cùng với cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, sự hỗ trợ của các cấp, các ngành ở trung ương và sự cố gắng của nhân dân nên nông nghiệp nông thôn Thái Bình có bước phát triển vượt bậc, đạt được những dấu son mới, luôn giành được lá cờ đầu trong phong trào thâm canh tăng năng suất và xây dựng nông thôn mới.

Về trồng trọt, đã tiến hành quy vùng sản xuất hàng hóa tập trung, dồn điền đổi thửa và tích tụ tập trung ruộng đất; ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, thực hiện thuỷ lợi hóa, điện khí hóa và cơ giới hóa trong các khâu sản xuất; nghiên cứu khảo nghiệm đưa các loại giống mới và sử dụng các loại vật tư nông nghiệp, các chế phẩm sinh học mới vào sản xuất. Năng suất lúa ổn định trên 132 tạ/ha/năm, cao nhất so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng; sản lượng thóc trên 1 triệu tấn/năm, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; mở rộng diện tích cây vụ đông thành vụ chính trong năm, đưa hệ số sử dụng đất lên 2,4 lần; giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác trồng trọt năm 2020 đạt 160,65 triệu đồng.

Chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, đến nay đã có 730 trang trại chăn nuôi và trên 7.200 gia trại; trong đó, có 20 trang trại là doanh nghiệp, 130 trang trại chăn nuôi tập trung; có 04 doanh nghiệp đang thực hiện liên kết hợp tác với gần 30 chủ trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Tích cực, chủ động tham mưu các cơ chế, chính sách và thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; Do vậy, mặc dù những năm qua bị ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn Châu Phi, dịch lở mồm long móng, H5N1 nhưng chăn nuôi vẫn liên tục đạt được mức tăng trưởng khá cao.

Thủy sản phát triển toàn diện cả khai thác và nuôi trồng với tổng sản lượng 257 nghìn tấn. Nuôi trồng thủy sản phát triển đa dạng các loại hình (bãi triều, ao đầm, lồng bè); phương thức nuôi chuyển từ quảng canh cải tiến sang bán thâm canh và thâm canh, trong đó có 36,5% diện tích nuôi tôm theo hình thức thâm canh, siêu thâm canh, quy trình công nghệ hiện đại; năng suất tăng 3-5 lần so với hình thức nuôi thông thường (nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ mới đạt 20-40 tấn/ha/vụ, 3-4 vụ/năm). Tập trung cải tiến ngư cụ, hiện đại hoá phương tiện đánh bắt và cơ cấu lại đội tàu khai thác theo hướng tăng năng lực khai thác xa bờ, giảm tàu khai thác ven bờ; hình thành 31 tổ đội khai thác xa bờ cho đội tàu vùng lộng và vùng khơi, nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản.

Về lâm nghiệp, đã tích cực triển khai trồng, bảo vệ, chăm sóc rừng ngập mặn ven biển và trồng cây phân tán nội đồng; đưa diện tích rừng ngập mặn ven biển gần 4.256,54 ha, tạo thành đai rừng khá vững chắc bảo vệ hệ thống đê biển và các cộng đồng dân cư ven biển.

Xây dựng nông thôn mới được chỉ đạo thực hiện quyết liệt, chủ động, sáng tạo, kịp thời, đã huy động và khơi dậy mọi tiềm năng, nguồn lực của nhà nước và nhân dân, tạo ra động lực mạnh mẽ cho chương trình xây dựng nông thôn mới; do vậy kết quả xây dựng nông thôn mới đạt được toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; chỉ tính riêng giai đoạn 2010-2020, toàn tỉnh đã huy động cho xây dựng nông thôn mới khoảng 22.236 tỷ đồng tỷ đồng, đã đầu tư đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, bao gồm: xây dựng, nâng cấp 1.090,22 km đường trục xã; 1.910,93 km đường trục thôn; 3.192,17 km đường nhánh cấp 1 trục thôn; 2.215 km đường ngõ xóm; Cứng hóa 1.275,51 km kênh mương cấp 1 loại 3; xây dựng và nâng cấp 3.780,58 km đường giao thông nội đồng; 29 trạm bơm; 248 cống đập; Đầu tư mới 23 trạm cấp nước sạch, nâng cấp và mở rộng phạm vi cấp nước 34 trạm cấp nước sạch; 207 trường trung học cơ sở, tiểu học và mầm non; 85 nhà văn hóa xã; 984 nhà văn hóa thôn; 125 sân thể thao xã; 130 sân thể thao thôn; 180 trạm y tế; 137 chợ nông thôn; 99 xã hoàn thành nâng cấp lưới điện nông thôn; 247 khu xử lý rác thải và lò đốt rác; 21 nghĩa trang được quy hoạch và xây dựng mới; hỗ trợ xây dựng, nâng cấp trên 6.100 nhà ở cho người có công, người nghèo...; tỷ lệ người dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100% (năm 2015 đạt 48,5%); sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, nghề và làng nghề ở nông thôn phát triển mạnh, tạo nhiều công ăn việc làm và góp phần tăng thu nhập cho người lao động; diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ nét.

Đến hết năm 2019, tỉnh Thái Bình là 1 trong 8 tỉnh đầu tiên trên cả nước có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, hoàn thành trước 3 năm so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ XIX đề ra. Đến nay, toàn tỉnh có 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; có 4 xã (Hồng An, Hồng Minh huyện Hưng Hà; Đông Lâm, Tây Giang huyện Tiền Hải), đang hoàn thiện thủ tục công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; có 07/07 huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn quốc gia về nông thôn mới, Thành phố Thái Bình hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; tỉnh Thái Bình đang trình Chính phủ quyết định công nhận là tỉnh thứ ba trong cả nước hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Về thủy lợi, đã tham mưu cho tỉnh tranh thủ sự giúp đỡ của các bộ, ngành ở trung ương xử lý tốt việc cấp bù thủy lợi phí, giảm sự đóng góp của nhân dân và đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống công trình thủy lợi, khắc phục khó khăn về úng, hạn; chủ động cung cấp nước có chất lượng cho sản xuất, dân sinh. Bên cạnh việc củng cố, nâng cấp, duy trì năng lực của hệ thống thủy lợi, một loạt công trình trọng điểm được đầu tư theo hướng hiện đại: Nâng cấp cứng hóa trên 157,5 km đê, trong đó có trên 70 km đê biển, 25,10 km kè, cơ bản xóa bỏ các trong điểm xung yếu phòng chống lụt bão; xây dựng các trạm bơm lớn như: Quỳnh Hoa, Minh Tân, Hậu Thượng, Nguyên Tiến Đoài, Tân Phúc Bình, Đông Tây Sơn; Thống Nhất... Xây dựng cống Trà Linh, cống Lân, cống Tân Đệ; kiên cố hóa  343,0 km kênh mương; cải tạo, xây mới 1.634 cống đập nội đồng, 117 trạm bơm nhỏ; nạo vét 4.375.096,0 m3 sông trục dẫn; làm cho cơ sở vật chất về nông nghiệp được tăng cường đáng kể, phục tốt sản xuất, cũng như công tác phòng chống lũ bão, thiên tai. 

Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đạt được những thành tựu to lớn trên đây, trước hết có sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của đảng, nhà nước; truyền thống yêu nước, cần cù, chịu khó, dám nghĩ, dám làm của người nông dân; và đặc biệt là sự nỗ lực phấn đấu, đóng góp sức lực, trí tuệ của nhiều thế hệ cán bộ, công chức viên chức ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn qua các thời kỳ. 

Nhân dịp này, thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Sở tôi xin trân trọng cảm ơn các đ/c lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đ/c Lãnh đạo tỉnh trong suốt thời gian qua đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, hiệu quả, sâu sát và toàn diện đối với ngành; trân trọng cảm ơn sự hợp tác chặt chẽ, có hiệu quả của các cục, vụ, viện thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Sở ban ngành, các huyện thành phố thuộc tỉnh. Tôi trân trọng ghi nhận, tôn vinh công lao đóng góp của các thế hệ lãnh đạo và cán bộ, công chức, viên chức ngành nông nghiệp qua các thời kỳ.

Kính thưa các vị đại biểu khách quý, thưa các đồng chí!

Thời gian tới, bên cạnh những thời cơ thuận lợi, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là: Thiếu lao động trẻ khỏe, có năng lực; thiên tai, dịch bệnh phức tạp, diễn biến khó lường; biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn; mưa, bão diễn biến phức tạp, trái quy luật, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất dân sinh; hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đang đặt ra những yêu cầu mới, thách thức mới; sản xuất vẫn nhỏ lẻ, phân tán, quy mô nông hộ là chính, hiệu quả sản xuất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và nền kinh tế còn rất thấp, nông dân vẫn mang nặng tư tưởng giữ đất, chính sách tích tụ, tập trung đất đai còn nhiều bất cập; đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp.

Để vượt qua những khó khăn, thách thức trên, đòi hỏi ngành nông nghiệp, nông dân và các cơ sở sản xuất cần phải tập trung đổi mới sáng tạo, thay đổi phương thức sản xuất, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất, lấy thị trường làm cơ sở để định hướng sản xuất, tham gia tích cực vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; tiếp tục đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. Phấn đấu giai đoạn 2020-2025, nông nghiệp tăng trưởng trung bình từ 2,0%/năm trở lên, trong đó trồng trọt đạt 0,56%, chăn nuôi 2,28%, thủy sản 4,13% trở lên; đến hết năm 2025: Có 20% số xã trở lên đạt tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao, có 5% số xã trở lên đạt tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu. Mỗi huyện có ít nhất 2 sản phẩm chủ lực, có thương hiệu và thị trường tiêu thụ.

Tập trung chỉ đạo quy hoạch, quy vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa phù hợp với khả năng, nguồn lực đầu tư và phương thức sản xuất của các chủ thể tham gia sản xuất; từng bước hình thành ba vùng sản xuất hàng hóa: Thứ nhất, quy hoạch quy vùng sản xuất đảm bảo điều kiện thuận lợi nhất để ưu tiên cho nông dân sản xuất theo kiểu nông hộ, trong cánh đồng mẫu lớn, có sự hỗ trợ và hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn theo các chương trình khuyến nông. Tiếp đến là quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa dành cho những người nông dân có khả năng về vốn, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất, có khát vọng vươn lên làm giàu, tổ chức sản xuất theo kiểu trang trại với quy mô dưới 50 ha, làm vệ tinh, liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp. Tiếp đến, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa liên thôn, liên xã, thu hút các doanh nghiệp vào thuê đất, hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoặc nhận góp cổ phần bằng đất, để tổ chức sản xuất quy mô lớn, mức độ tập trung cao, theo phương thức công nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, làm đầu tàu trong chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

Tập trung công tác tuyên truyền vận động để các cấp, các ngành và nhất là người dân hiểu được việc tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tích tụ, tập trung ruộng đất, tăng quy mô sản xuất theo hướng hàng hóa quy mô lớn, nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả bền vững là tất yếu khách quan trong tình hình mới; để từ đó người dân và các cấp, các ngành đổi mới tư duy sản xuất, từ bỏ thói quen, tập quán canh tác nhỏ lẻ, phân tán, thụ động; dám nghĩ, dám làm với quy mô lớn và tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh.

Ban hành và điều chỉnh cơ chế chính sách, thực hiện đồng bộ các cơ chế chính sách về xây dựng nông thôn mới, chính sách khuyến khích đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đảm bảo nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả bền vững.

Đẩy mạnh tiếp thu, ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, làm cho khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nhân tố quan trọng hàng đầu để nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường; đồng thời khắc phục tình trạng thiếu lao động thời vụ ở nông thôn hiện nay; đẩy mạnh cơ giới hóa tất cả các khâu của quá trình sản xuất; xây dựng một số khu nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với đặc điểm thời tiết, khí hậu của Thái Bình, từ đó tổng kết thực tiễn, nhân ra diện rộng, nhằm mục tiêu thu được khối lượng sản phẩm cao nhất, chất lượng tốt nhất, thu nhập nhiều nhất trên đơn vị diện tích để giải quyết tình trạng đất nông nghiệp đang bị thu hẹp hiện nay.

Quan tâm chỉ đạo và có chính sách ưu đãi đặc biệt để phát triển mạnh mẽ công nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm, đầu tư kết cấu hạ tầng và giải quyết các điều kiện thiết yếu cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Nâng cao năng lực dự tính, dự báo thị trường; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa của tỉnh, trong đó đặc biệt chú trọng thị trường các thành phố lớn, thị trường Trung quốc, Nhật Bản, Mỹ, EU... Đầu tư tập trung cho xây dựng và quảng bá thương hiệu các mặt hàng nông sản Thái Bình, trước hết là các thương hiệu gạo chất lượng cao (Nếp làng Keo, gạo thơm Thái Bình, gạo Japonica), lúa giống, mít giai vàng, hồng xiêm, hành, tỏi, lợn giống, lợn sữa...

Tăng cường năng lực hệ thống khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, phòng chống lụt bão, quản lý chất lượng vật tư, chất lượng nông sản, đảm bảo giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng ... Đổi mới mạnh mẽ quan hệ sản xuất, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, quy mô nhỏ bé, hướng chỉ đạo là tăng cường kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, liên kết và phát triển mạnh các doanh nghiệp trong nông nghiệp, tiến tới hình thành một phương thức sản xuất tiên tiến, phù hợp với xu thế phát triển.

Tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư cho chương trình xây dựng nông thôn mới và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Trước hết, cần phải bố trí kinh phí và thực hiện ngay việc rà soát lại quy hoạch hệ thống thủy lợi để có cơ sở giải quyết một cách triệt để những khó khăn thách thức về tưới tiêu và đối phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, mưa bão lũ; tập trung xây dựng và cải tạo một số cống tưới tiêu, trạm bơm tưới tiêu lớn, nạo vét các tuyến sông trục lớn, cải tạo nâng cấp các tuyến đê sông, đê cửa sông, các công trình cấp bách, để chủ động phòng chống lụt bão, thiên tai. Tiếp tục đầu tư kiên cố hóa kênh mương, nâng cấp các trạm bơm tưới; xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện cho các khu sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Xúc tiến các thủ tục đầu tư xây dựng cảng cá Thụy Tân để tạo điều kiện thuận lợi tiếp nhận sản phẩm khai thác thủy sản, phục vụ các nhà máy chế biến xuất khẩu.

Tiếp tục vận động nhân dân tích cực xây dựng nông thôn mới với tinh thần dân chủ, tự nguyện, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi. Tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới đã đạt được để xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. Điều chỉnh quy hoạch phát triển nông thôn theo chủ trương tái cơ cấu kinh tế của tỉnh; duy tu bảo dưỡng và tiếp tục nâng cấp công trình hạ tầng kinh tế - xã hội tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; tập trung phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và đời sống của cư dân nông thôn; cải thiện chất lượng y tế, giáo dục, xây dựng các thiết chế và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao, bài trừ hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội; bảo vệ và cải thiện môi trường nông thôn; khuyến khích, vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu, đem lại sự chuyển biến tích cực, rõ nét hơn tới từng hộ gia đình và cuộc sống trực tiếp của mỗi người dân sinh sống ở nông thôn. Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới nâng cao gắn với đô thị hoá nông thôn, phù hợp với yêu cầu và điều kiện của giai đoạn mới. Xây dựng và triển khai chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

Kính thưa các vị đại biểu khách quý, thưa các đồng chí!

Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ, giải pháp phát triển nông nghiệp nông thôn đã đề ra, toàn thể cán bộ công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, quyết liệt, hướng về cơ sở cùng với bà con nông ngư dân cố gắng, nỗ lực cao hơn nữa, quyết tâm phấn đấu đưa nông nghiệp nông thôn tỉnh nhà vững bước tiến lên tầm cao mới.

Thời gian tới rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các đ/c lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đ/c Lãnh đạo tỉnh; sự phối hợp và giúp đỡ của các các cục, vụ, viện thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Sở ban ngành, các huyện thành phố.

Tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, sáng tạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự cố gắng đồng lòng của các cấp, các ngành với truyền thống cần cù, sáng tạo và khát vọng vươn lên làm giàu của nông dân, nhất định nông nghiệp nông thôn Thái Bình sẽ phát triển vượt bậc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XX.

Xin kính chúc các đ/c Lãnh đạo tỉnh, các đ/c Lãnh đạo ngành qua các thời kỳ và toàn thể các đ/c dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt!

Xin trân trọng cảm ơn! 

 


Nguồn: sonnptnt.thaibinh.gov.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Dự án, đầu tư, đấu thầu
Dự báo thời tiết
Thống kê truy cập
Lượt truy cập hiện tại : 1
Hôm nay : 590
Hôm qua : 1.280
Tháng 11 : 64.576
Năm 2020 : 235.963